ĐẠI CƯƠNG

Nguyên lý

  • Single photon emission computed tomography (SPECT) – Phương pháp chụp cắt lớp phát PHOTON đơn là một kỹ thuật trong y học hạt nhân, sử dụng các dược phẩm phóng xạ, các đầu dò quay (một hoặc nhiều đầu) và một máy chụp cắt lớp để tạo ảnh của các lớp cắt cơ thể trên các bình diện khác nhau. Các hình ảnh SPECT phản ánh hoạt động chức năng của cơ quan sát thực hơn là các phương pháp chẩn đoán hình ảnh chỉ phản ảnh về hình thái khác như siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, tạo ảnh cộng hưởng từ.

SPECT sử dụng hệ thống đa đầu dò hoặc hệ thống camera gamma Hệ thống sẽ phát hiện sự phát photon đồng thời từ 3 lát cắt của não và cho phép phân giải một chiều dày tổ chức 1,7cm. Mục đích của phương pháp là định lượng chính xác sự tưới máu khu vực và chức năng cơ quan căn cứ vào sự phân bố hoạt tính xạ.

Vai trò của SPECT và các dược phẩm thường được sử dụng

  • Trong các bệnh lý thần kinh, SPECT có vai trò của kiểm tra chức năng não bộ thông qua các thông số về tuần hoàn và chuyển hoá của não.
  • Hiện nay có 4 dược phẩm phóng xạ được sử dụng nghiên cứu hình ảnh não được FDA công nhận là: 1-123 isopropyliodoamphetamin (IMP, SPECTamin); Tc – 99m HMPAO (hexamethyl propylamin oxim, ceretec); Tc – 99m ECD (ethyl cysteinate dimer, neurolite) và thallium 201 diethyldithiocarbamat (T1 – DDC).

Thông qua tiêm tĩnh mạch của hợp chất chứa technetium sẽ kiểm tra được rối loạn chức năng của hàng rào máu – não, bằng Iod – 123 – amphetamin hoặc hít khí xenon – 133 sẽ kiểm tra được chức năng tưới máu khu vực.

Tiêm tĩnh mạch

Hình 8.119. Hình ảnh SPECT bình thường

Ở người bình thường, phân bố xạ đối xứng, nhiều nhất ở vùng chất xám vỏ não và ở vùng ngoại vi của thùy trán, thái dương, đỉnh và chẩm. Hơn nữa, dòng chảy mạnh còn thấy ở vùng đồi thị và các nhân xám trung ương.

Vùng lưu lượng tuần hoàn thấp có màu xanh, vùng có lưu lượng tuần hoàn cao có màu da cam (hình 8.119).

CHỈ ĐỊNH

Các chỉ định về thần kinh

Định khu ổ động kinh.

Chẩn đoán viêm tuỷ xương, phân biệt nhiễm khuẩn xương với các nhiễm khuẩn phần mềm.

Định khu các ổ áp – xe.

Phân biệt các ổ hoại tử với u não (lymphoma, các u tuyến thần kinh – nội tiết….

Phát hiện các ổ huỷ xương và gẫy xương.

Hỗ trợ chẩn đoán sa sút trí tuệ (bệnh Alzheimer, sa sút trí tuệ do mạch máu, sa sút trí tuệ với thể Lewy, sa sút trí tuệ trán – thái dương).

Chẩn đoán và đánh giá mức độ đột qụy não.

Đánh giá tình trạng chức năng động mạch cảnh trong trong thủ thuật gây tắc mạch giới hạn thời gian bằng bóng.

Chẩn đoán phân biệt bệnh với hội chứng

Các chỉ định về tâm thần

Chẩn đoán và đánh giá rối loạn chú ý.

Chẩn đoán và đánh giá các rối loạn nhân cách.

Chẩn đoán và đánh giá bệnh tâm thần phân liệt.

Chẩn đoán và đánh giá

Các chỉ định khác

Chỉ định trong chuyên ngành tim mạch.

Các chỉ định khác.

SPECT TRONG CHUYÊN NGÀNH THẦN KINH

SPECT trong các bệnh thần kinh cụ thể

Trong động kinh

SPECT có thể thay thế rất tốt cho PET để phát hiện các ổ co giật trước khi xảy ra cơn, tạo điều kiện cho điều trị phẫu thuật có hiệu quả các trường hợp động kinh kháng trị. Các cơn động kinh thường kèm theo tăng tới máu một cách rõ rệt (các cơn cục bộ tăng tới máu khu trú còn các cơn toàn thể tăng tới máu lan toả). Người ta có thể nghiên cứu SPECT trong cơn động kinh (khi đó phải gây cơn bằng cách giảm liều thuốc kháng động kinh đang dùng). Trong cơn động kinh, SPECT căn cứ vào sự gia tăng sinh lý của dòng máu khu vực để định khu một cách chính xác vùng tổ chức não gây cơn động kinh. Các nghiên cứu trong cơn cho thấy độ nhậy của ph­ương pháp định khu ổ tổn thương theo SPECT là 81 – 93% (SPECT giữa các cơn thấy có giảm tuần hoàn não tại các ổ động kinh với độ nhậy 40 – 75%). Hơn nữa SPECT còn có thể phối hợp với điện não video để tạo thành một tổ hợp theo dõi cơn động kinh hoàn chỉnh. SPECT không được dùng để phát hiện ổ động kinh sau cơn hoặc giữa các cơn, không dùng để xác định loại cơn hoặc theo dõi kết quả điều trị động kinh.

Trong bệnh lý mạch máu não

Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy, SPECT có thể chỉ ra vùng thiếu máu cấp tính tốt hơn là CT.Scan, 8 giờ sau khi bị nhồi máu não chỉ có khoảng 20% hình ảnh CT cho kết quả dương tính trong khi tỷ lệ này ở SPECT là 90%, cho tới 72 giờ tỷ lệ dương tính của CT và SPECT là tương đương nhau. Hơn nữa, ổ nhồi máu quan sát thấy ờ SPECT thường lớn hơn hình ảnh quan sát thấy trên phim CT.

Trong khi điều trị đột qụy thiếu máu não cấp tính, việc sử dụng rt-PA trong vòng 3 giờ sau khởi phát có ý nghĩa rất lớn. Trong trường hợp này có thể chỉ cần hình ảnh CT âm tính với đột qụy chảy máu não là có thể cho chỉ định dùng rt-PA rồi, SPECT không thể loại trừ đột qụy chảy máu như CT, nên không thể sử dụng làm chỗ dựa để cho chỉ định rt-PA trong giai đoạn nhồi máu não cấp tính.

SPECT chỉ có ý nghĩa chẩn đoán đột qụy não trong giai đoạn từ khoảng 6 giờ đến 14 ngày sau khởi phát. Ngoài ra cũng có nhiều nghiên cứu giá trị của SPECT trong đánh giá tiên lượng sau đột qụy não, xác định thể đột qụy, theo dõi điều trị đột qụy, chẩn đoán co thắt mạch sau chảy máu dưới nhện và chẩn đoán cũng như tiên lượng TIA.

Trong u não

SPECT đã chứng minh được vai trò chẩn đoán phân biệt giữa u não tồn tại và tổn thương tổ chức não do phóng xạ ở các bệnh nhân u não có sử dụng xạ trị. về phương diện lâm sàng thì hai tổn thương này rất khó phân biệt, chẩn đoán xác định các tân sản của não (chia độ của gliomas). Đối với các u nội tiết thần kinh (các carcinoids và các u nội tiết thần kinh khác) có các thụ cảm thể somatostatin, bởi vậy chúng dễ được làm hiện hình bằng các chất giống somatostatin (như octreotid, pentetreotid) được gắn với các đồng vị phóng xạ thích hợp. ủy ban tư vấn Y học úc (Australian Medical Services Advisory Committee) khẳng định, SPECT thường được tiến hành cùng với tạo ảnh kháng thể (antibody imaging, octreoscan) của các u nội tiết thần kinh sau khi tiêm xạ 24 giờ (cũng có thể 48 giờ). Khi đó giá trị chẩn đoán sẽ cao hơn.

Trong bệnh Alzheimer

SPECT cũng được nghiên cứu để chẩn đoán bệnh Alzheimer, tuy nhiên, hiện nay chẩn đoán xác định bệnh Alzheimer chỉ có thể dựa vào tổ chức học. Bệnh chỉ được chẩn đoán thông qua việc loại trừ rộng rãi. Vì vậy, giá trị thực của công việc chẩn đoán sa sút trí tuệ là để xác định các nguyên nhân khác gây tổn thương nhận thức có thể chữa khỏi được.

SPECT không chỉ ra được rõ rệt khả năng đánh giá các bệnh nhân sa sút trí tuệ của nó, không có chỉ định rõ ràng trong chẩn đoán, đánh giá tiên lượng và theo dõi kết quả điều trị (Ferrant, 2004).

Trong bệnh Alzheimer, SPECT cho thấy giảm tưới máu ở vùng vỏ não liên hợp thùy đỉnh và phần sau thùy thái dương. Vùng vỏ não liên hợp thuỳ trán tổn thương ưu thế trong một số trường hợp, nhưng thường ở giai đoạn cuối của bệnh. Thuỳ chẩm và tiểu thuỳ cạnh trung tâm ít bị tổn thương nhất và thường được bảo toàn.

Đối với các ổ tiêu xương và vỡ đốt sống

  • Vai trò của SPECT đối với cột sống trong những năm gần đây bị hạn chế bởi MRI và đặc biệt của MRI có tiêm thuốc đối quang từ.

– Chụp cắt lớp cột sống với SPECT cho phép quan sát thấy các thương tổn liên quan với các ổ gãy hoặc ổ phản ứng xương do đè ép cũng như các ổ tiêu xương, trong đó chẩn đoán rất nhậy với tiêu xương giai đoạn sớm và các ổ gãy do đè ép. Trong nhiều trường hợp, SPECT có thể phát hiện các ổ gãy và phân biệt tổn thương xương hay tổn thương phần mềm sớm hơn X quang nhiều ngày cho tới nhiều tuần. Tuy nhiên, trong đa số trường hợp tính đặc hiệu của SPECT không cao nên vẫn cần phải kết hợp với nhiều phương pháp chẩn đoán bổ trợ khác để loại trừ các trường hợp dương tính giả.

SPECT của động mạch cảnh trong

Chỉ định làm tắc động mạch cảnh thoáng qua bằng bóng (internal carotid artery temporary balloon occlusion = TBO) là một thăm dò trước mổ cần thiết để đánh giá các phình mạch cũng như các u vùng gáy hoặc nền sọ trước khi các bệnh nhân được phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch với yêu cầu thủ thuật gây tắc mạch nhân tạo kéo dài. TBO thường được chỉ định kết hợp với các phương pháp phân tích tuần hoàn não để xác định những bệnh nhân không chịu được loại phẫu thuật này. Thông thường xenon – CT được sử dụng trong khi làm TBO để phát hiện vùng thiếu máu; nhưng gần đây SPECT được coi là phương pháp cần lựa chọn để phát hiện các ổ giảm tới máu trong khi làm test tắc động mạch cảnh. Các nghiên cứu cho thấy tính an toàn và hiệu quả của phương pháp cao, nhưng vẫn còn sớm để khẳng định SPECT ưu thế hơn xenon – CT trong chỉ định này.

Các chỉ định khác

SPECT còn được chỉ định trong chẩn đoán HIV, các bệnh não khác, chấn thương sọ não, múa giật Huntington, trạng thái thực vật kéo dài cũng như trong chẩn đoán chết não. SPECT đối với Parkinson, Suchovversky và cs (2006) cho rằng còn chưa thấy tính đắc dụng của cắt lớp SPECT trong chẩn đoán phân biệt giữa bệnh và hội chứng Parkison.

Bài viết chưa có từ khóa.
0/50 ratings
Bình luận đóng