Liệt dây thần kinh trụ, giữa, quay chiếm 0,69% bệnh thần kinh (theo thống kê của Hồ Hữu Lương, Nguyễn Văn Chương và Cao Hữu Hân – 1991).

  1. Liệt dây thần kinh quay

Hay gặp nhất trong bệnh thần kinh chi trên.

  • Giải phẫu:

Dây thần kinh quay phát sinh từ thân nhì sau (CV, CVI, CVII, CVIII).

  • Triệu chứng:

– Vận động: cẳng tay úp sấp, hơi gấp, các ngón tay gấp lên nửa chừng, ngón cái khép lại, bàn tay rũ xuống không nhấc lên được “bàn tay rũ cổ cò” (Col de Cygne). Bệnh nhân không làm được các động tác duỗi bàn tay và duỗi các đốt ngón tay, duỗi và dạng ngón tay cái, ngửa cẳng tay và bàn tay.

  • Cảm giác: mất cảm giác mặt sau cánh tay, cẳng tay và nửa ngoài mu tay.
  • Phản xạ: mất phản xạ gân cơ tam đầu cánh tay và phản xạ trâm quay.
    • Định khu thương tổn dây thần kinh quay:
  • Thương tổn dây thần kinh quay ở cao (ở hố nách, ở nửa trên cánh tay): có đầy đủ các triệu chứng đã kể trên.
  • Thương tổn dây thần kinh quay ở 1/3 giữa cánh tay: vẫn còn duỗi cẳng tay, phản xạ gân cơ tam đầu và cảm giác ở cánh tay không bị rối loạn.
  • Tổn thương dây thần kinh quay ở 1/3 dưới cánh tay: vẫn còn chức năng của cơ ngửa dài và cảm giác mặt sau cẳng tay (do nhánh thần kinh bì ngoài) vì những nhánh thần kinh tương ứng xuất phát từ thân chung của dây thần kinh ở mức cao hơn.
  • Tổn thương dây thần kinh quay ở 1/3 trên cẳng tay: chỉ tổn thương các cơ duỗi bàn tay và ngón tay và chỉ rối loạn cảm giác ở bàn tay.
  • Tổn thương dây thần kinh quay ở 1/3 giữa cẳng tay: chỉ rối loạn động tác duỗi đốt một các ngón tay trong khi vẫn còn duỗi được bàn tay.
  • Tổn thương đơn độc nhánh cảm giác dây quay ở cổ tay: hiếm gặp, tạo thành chứng “đau dị cảm bàn tay” có các triệu chứng rối loạn cảm giác ở da khoang liên đốt một mu tay hoặc liên đốt một và hai ở mu tay và tăng cảm bờ trong ngón cái.
  • Nguyên nhân: Liệt dây thần kinh quay hay gặp vì dây thần kinh này dễ bị đè ép ở vùng giữa cánh tay, nơi mà các dây thần kinh vòng quanh xương cánh tay từ mặt trong – sau, ra phía trước ngoài của xương Trường hợp liệt toàn bộ dây thần kinh quay thường do một tổn thương ở cao. Liệt dây thần kinh quay thường do nhiễm độc (liệt do chì, asen, cồn), nhiễm khuẩn (thương hàn, giang mai), do tiêm ở mặt ngoài cẳng tay.

2.  Liệt dây thần kinh giữa.

  • Giải phẫu:

Dây thần kinh giữa phát sinh từ thân nhì trước ngoài và trước trong (CVI, CVII, CVIII, DI).

  • Triệu chứng:
  • Vận động: bàn tay có hình dạng “bàn tay khỉ”: do mô cái teo, ngón cái nằm cùng mặt phẳng với các ngón khác, ngón cái không gấp lại và không đối chiếu được. Khi bệnh nhân nắm tay lại thì có hình dáng đặc biệt “bàn tay giảng đạo” biểu hiện mất hoàn toàn động tác gấp ngón trỏ và ngón cái, động tác gấp ngón nhẫn và ngón út vẫn bình thường.
  • Cảm giác: giảm hoặc mất cảm giác da khu vực dây thần kinh giữa phân bố.
  • Dinh dưỡng: teo cơ mô cái, da thuộc khu vực dây thần kinh giữa phân bố có thể bị khô, mỏng, các ngón tay nhợt hoặc tím.
  • Nguyên nhân: Trong thời chiến thường gặp tổn thương phối hợp dây thần kinh giữa với dây thần kinh khác (do vết thương hay chấn thương cánh tay, ít gặp hơn do vết thương hoặc chấn thương cẳng tay).
  1. Liệt dây thần kinh trụ.

    • Giải phẫu:

Dây thần kinh trụ xuất phát từ thân nhì trước ngoài (CVIII, DI).

  • Vận động: liệt dây trụ có những triệu chứng chủ yếu sau:

+ Vuốt trụ (Griffe cubitale):

  • Triệu chứng:

+ Mô út teo nhỏ bẹt xuống, các khe gân đốt lõm xuống để lộ rõ xương bàn tay và bàn tay như một cái vuốt.

+ Đốt một các ngón tay nhất là ngón 4 và 5 quá duỗi và hai đốt khác gấp, các ngón tay luôn ở tư thế dạng (vì liệt các cơ gian đốt gan tay và mu tay, cơ giun do dây trụ chi phối nên không thể gấp đốt một ngón tay, duỗi đốt 2 và 3 ngón út và không thể khép được ngón tay).

+ Mất động tác khép và dạng các ngón tay vì liệt cơ gian đốt.

+ Liệt các cơ gian đốt gan tay, mu tay và cơ giun (phát hiện bằng test đánh giá chức năng cơ gấp ngắn ngón út, bệnh nhân úp sấp lòng bàn tay trên mặt bàn rồi ngãi ngón út lên mặt bàn).

+ Mất động tác khép ngón cái: phát hiện bằng test đánh giá chức năng cơ khép ngón cái hoặc bằng dấu hiệu ngón cái của Froment (Signe du Froment). Bệnh nhân cầm một tờ bìa giữa ngón cái và ngón trỏ xiết chặt tay và kéo miếng bìa. ở bên lành ngón cái xiết chặt được tờ bìa (nhờ có cơ khép ngón cái do dây trụ chi phối). Bên bệnh ngón cái không khép được nên phải gấp ngón cái (nhờ cơ gấp dài ngón cái do dây giữa chi phối) để bấm tờ bìa.

Trong thực tế lâm sàng (trong trường hợp tay đã bó bột) chỉ có thể căn cứ vào vận động của ngón cái để xác định tổn thương các dây thần kinh (tổn thương dây quay: mất dạng ngón cái, tổn thương dây trụ: mất khép ngón cái, tổn thương dây giữa: mất đối chiếu ngón cái).

  • Cảm giác: mất tất cả cảm giác ở ngón tay út, mô út và một nửa ngón nhẫn.
  • Phản xạ: mất phản xạ trụ – sấp.
    • Nguyên nhân:
  • Do dây trụ liên quan mật thiết đến đầu xương cánh tay, đi ở phía sau rãnh ròng rọc, ngay ở dưới da vì vậy dễ bị tổn thương trong các vết thương hoặc chấn thương vùng khuỷu.
  • Dây thần kinh trụ hay bị tổn thương trong bệnh phong (Lèpre), có thể sờ thấy dây thần kinh trụ nổi rõ trong rãnh ròng rọc khuỷu.
  • Viêm dây thần kinh trụ do nhiễm độc, nhiễm khuẩn.
  • Tổn thương thần kinh trụ do xương sườn cổ (ít gặp).
  • Trước hết cần điều trị nguyên nhân gây bệnh.
  1. Điều trị.

  • Dùng các thuốc phục hồi dẫn truyền thần kinh và phục hồi tổn thương dây thần kinh như: nivalin, ATP, vitamin nhóm
  • Dùng thuốc chống viêm giảm đau: corticoid và không-steroid
  • Châm cứu, xoa bóp, lý liệu và tập vận động.
  • Điều trị ngoại khoa khi có chỉ định, như viêm dính, đứt dây thần kinh.
Bài viết chưa có từ khóa.
0/50 ratings
Bình luận đóng