NÁNG HOA TRẮNG

Tên khác: Cây lá náng, chuối nước, tỏi voi, luột lài, văn châu lan, cáp gụn (Tày), co lạc quận (Thái)

Tên khoa học: Crinum asiaticum L.

Họ Thủy tiên (Amaryllidaceae)

MÔ TẢ

Cây thảo lớn, có thân hành to hình trứng thuôn. Lá hình mác dài, hẹp ngang, phiến dày và nhẵn bóng, mép nguyên uốn lượn, gân chính rõ lồi lên ở mặt dưới, hai mặt màu lục nhạt; bẹ lá rộng.

Cụm hoa mọc thành tán trên một cuống mập và dẹt, xuất hiện ở giữa túm lá; hoa to màu trắng, thơm, bao hoa phình thành ống rất hẹp, gồm 6 phiến mảnh hẹp ngang hình dải, nhị 6 có chỉ nhị màu đỏ tía, bầu dạng thoi.

Quả nang (ít gặp) hình cầu, hạt 1.

Mùa hoa quả: tháng 6 – 8.

Náng hoa trắng
Náng hoa trắng

PHÂN BỐ, NƠI MỌC

Trên thế giới, náng hoa trắng phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, chủ yếu là châu Á.

Ở Việt Nam, cây mọc hoang dại ở miền núi và nhất là vùng ven biển. Thường gặp ở chân núi đá vôi, bãi hoang. Nhưng chủ yếu được trồng làm cảnh.

BỘ PHẬN DÙNG, THU HÁI, CHẾ BIẾN

Lá náng hoa trắng, thu hái quanh năm, dùng tươi.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Náng hoa trắng chứa các chất alcaloid: lycorin, crinamin, crinasiatin, crinasiadin, crinin….

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ

Thân hành náng hoa trắng có tác dụng gây nôn, làm ra mồ hôi.

Lá có tác dụng chống viêm và long đờm.

Thân hành náng hoa trắng có độc, dùng phải thận trọng.

CÔNG DỤNG VÀ LIỀU DÙNG

Theo kinh nghiệm dân gian, lá náng hoa trắng được dùng chữa ứ huyết, bong gân, sai khớp, chân tay sưng đau. Khi dùng, lấy lá tươi, rửa sạch, cắt thành miếng, băm hơi giập, hơ nóng, đắp, băng lại. Ngày làm một lần trong nhiều ngày.

Dùng riêng hoặc phối hợp như sau: Náng hoa trắng (30g), mua thấp (30g), lá dạ cẩm (20g). Ba thứ dùng tươi, giã đắp.

Thân hành náng hoa trắng để tươi, giã nát, gói vào vải xô sạch, hơ nóng, đắp và ray chữa thấp khớp, đau nhức gân xương.

Chú ý: Lá và thân hành náng hoa trắng có độc, không được dùng dạng uống.

BÀI THUỐC

  • Chữa bong gân, sai khớp: Lá náng, lá canh châu, lá thầu dầu tía, lá kim cang, lá mua, lá bưởi bung, lá dây đau xương, lá tầm gửi cây khế, hồi, quế, đinh hương, vỏ núc nác, gừng sống, vỏ cây sồi, mủ xương rồng bà, củ nghệ, huyết giác, hạt máu chó, hạt trấp. Tất cả giã nát, sao nóng, chườm và day. Ngày làm một lần trong nhiều ngày. (Hải Thượng Lãn Ông).
  • Chữa tụ máu, sưng tấy do bị ngã hoặc va chạm mạnh, bó gẫy xương:

Lá náng hoa trắng (30g), lá sy (20g), lá sở (20g), giã nát, trộn với lòng trắng trứng, đắp băng. Cứ 2 ngày thay thuốc một lần.

Hoặc lá náng hoa trắng (20g), dây đòn gánh (10g), lá bạc thau (8g), giã nhỏ, thêm ít rượu, nướng, đắp. Ngày làm một lần.

  • Nghiên cứu về Náng hoa trắng và u xơ tuyến tiền liệt

Cây náng hoa trắng khá dễ trồng và có thể sử dụng tất cả các bộ phận của cây để làm thuốc. Đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản và Hàn Quốc cũng như các nhà khoa học trong nước đã cho thấy kết quả khả quan về tác dụng của loài cây này. Đề tài “Nghiên cứu cây náng hoa trắng (Crinum asiaticum L.) làm thuốc chữa u xơ tuyến tiền liệt” của Viện Dược Liệu đã kết luận:

Náng hoa trắng có tác dụng làm giảm phì đại lành tính trên tuyến tiền liệt lên tới 35,4%.

Náng hoa trắng có tác dụng chống viêm mạn rất tốt, có khả năng làm giảm trọng lượng u hạt tới 25,4 %.

Khi sử dụng Náng hoa trắng trong thời gian kéo dài cũng không gây tác dụng phụ hay độc tính.

5/51 rating
Bình luận đóng