Là một bệnh lý rất thường gặp, do các loài vi nấm sợi tơ như Epidermophyton, Microsporum và Trichophyton gây ra. Đây là các vi nấm thích lớp sừng, tấn công chọn lọc vào chất keratin của da, lông, tóc và móng ở người (ở súc vật: da, lông, móng), gây bệnh nấm cạn ở da và phần phụ, nhưng các niêm mạc không bị tổn thương. Bệnh truyền từ người qua người (Tri­chophyton rubrum, Trichophyton interdigitale), từ súc vật bị nhiễm qua người (Microsporum canis) và từ đất qua người.

LÂM SÀNG

Nấm da ở nếp

Nấm kẽ ngón chân

Vị trí chọn lọc là các kẽ ngón thứ 3, thứ 4 thường bị (kín nhất), thương tổn tróc vảy hay rịn nước, kết hợp nứt nẻ, mụn nước, bóng nước ở mặt trong ngón, thường ở đáy nếp và ngứa. Thường là nguồn lây các biến chứng như:

Đường vào của vi khuẩn do thay đổi hàng rào bảo vệ da, có thể gây bệnh viêm quầng ở chân.

Lan tỏa bệnh nấm ở bàn chân, thậm chí lan rộng vùng khác của cơ thể.

Thương tổn ở bàn chân thường có hình ảnh ly tâm, vòng cung, còn ở lòng bàn chân, mặt ngoài và gót chân thì dày sừng hoặc tróc vảy (do Trichophyton rubrum), đôi khi có mụn nước, bóng nước (do Trichophyton inter digitale).

Thương tổn một bên là yếu tố thuận lợi cho chẩn đoán bệnh nấm da, đặc biệt với Tri­chophyton rubrum có thể thấy thương tổn ở hai chân, một tay, có tróc vảy hay dày da ở mặt gấp các nếp.

Thương tổn ở nếp lớn

Thường là thứ phát nên cần phải tìm ổ nhiễm tiên phát, thường ở nếp bẹn, bắt đầu ở vùng bẹn bìu với thương tổn hồng ban vảy, tròn, rất ngứa, lan ra mặt trong của đùi cho hình ảnh một mảng hình bản đồ với viền đa cung, tiến triển ly tâm với bờ hồng ban mụn nước, thương tổn một bên hoặc hai bên.

Các thể nấm da khác

Herpes circiné: Thương tổn hình tròn, ly tâm, ngứa dữ dội.

Bệnh vi nấm có nguồn gốc từ súc vật, có hình ảnh viêm nhiều, có mủ gọi là kérion.

Bệnh vi nấm ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch (uống corticoid, ghép tạng, bệnh AIDS): triệu chứng không điển hình, không có bờ và không ngứa, tiến triển nhanh.

DỊCH TỄ HỌC

Sự lây bệnh là do đi chân trần trên đất bị nhiễm vảy có vi nấm từ người khác. Cũng có thể lây từ những nơi tập trung hoặc có khí hậu nóng ẩm là những yếu thuận lợi cho sự lây lan.

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

  • Thương tổn nếp ngón chân:

Nhiễm nấm hạt men: ở khoảng liên ngón chân, thường thấy ở các nếp khác như khoảng liên ngón tay, nếp mông, môi. Thương tổn đỏ bóng, nứt bở và chảy nước, thường được phủ bởi một chất màu trắng.

Tổ đỉa: Có thể có thương tổn giống nấm.

Viêm kẽ trực khuẩn gram âm: Thương tổn trợt lở, rịn nước, hôi, đôi khi có màu xanh do trực khuẩn sinh mủ.

Ngoài ra, thương tổn ở lòng bàn tay và lòng bàn chân cần phân biệt với:

+ Chàm tiếp xúc.

+ Vảy nến.

+ Chàm mạn.

  • Thương tổn ở nếp lớn:

Bệnh nấm hạt men: Có thương tổn vệ tinh, cảm giác nóng bỏng, bờ có viền vảy, bỢn trắng.

Erythrasma do vi khuẩn Corynebacterium minutissimum: Thương tổn là mảng nâu nhạt, bờ cong tróc vảy nhẹ, không ngứa nhưng tái phát, chiếu ánh sáng Wood phát huỳnh quang màu hồng thắm.

Vảy nến nếp: Không lành ở trung tâm, ngứa ít, giới hạn rõ, có triệu chứng nơi khác của Vảy nến.

CHẨN ĐOÁN BỆNH VI NẤM Ở DA

Khám lâm sàng.

Hỏi bệnh sử tìm các yếu tố thuận lợi như chơi thể thao dưới nước, đi chân trần, tiếp xúc với súc vật, khí hậu nhiệt đới…

Ánh sáng Wood: Phát huỳnh quang màu vàng xanh ở lông tóc do nấm Microsporum.

Xét nghiệm vi nấm giúp cho điều tra dịch tễ học, cần trong các thể lan toả tái phát.

ĐIỀU TRỊ BỆNH NẤM DA

Điều trị thương tổn ở da

Điều trị tại chỗ là đủ, dùng dẫn xuất Imidazole kem hay mỡ trong 3-4 tuần, bôi 1 hay 2 lần tùy loại thuốc.

Điều trị toàn thân khi thương tổn lan rộng hay kháng thuốc bôi (Trichophyton rubrum), thương tổn viêm nhiều hay ở người suy giảm miễn dịch:

+ Griseofulvin: lg/ngày trong 2-4 tuần cho da; 4-8 tuần cho nếp và da ở bàn chân.

+ Ketoconazole: 200mg/ngày, cần theo dõi viêm gan do thuốc bằng xét nghiệm sinh học mỗi 2 tuần trong 6 tuần đầu.

+ Terbinafin: 250mg/ngày trong 2-6 tuần (người lớn), ít theo dõi sinh học.

+ Itraconazole:100mg/ngày trong 15 ngày với thương tổn ở lòng bàn tay, còn với bàn chân là100mg/ngày trong 1 tháng hay 400mg/ngày trong 7 ngày.

Nấm ở nếp

  • Tại chỗ

Imidazole hay Ciclopiroxolamin trong 3-8 tuần.

Terbinafine kem 1% trong 2-4 tuần.

  • Toàn thân khi lan rộng và tái phát

Griseofulvin hay Terbinafin.

Ketoconazole khi không dung nạp các thuốc khác.

Terbinafin 250mg/ngày trong 1-2 tuần.

Itraconazole100mg/ngày trong 2 tuần hay 200mg/ngày trong 7 ngày.

Fluconazole 50mg-100mg/ngày hay 150mg/tuần trong 2-3 tuần.

Tóm lại, việc điều trị nấm sợi tơ ở da và nếp dùng thuốc tại chỗ hay toàn thân tùy theo:

Vị trí và sự lan rộng của thương tổn.

Có thương tổn bộ phận phụ kết hợp.

Nguy cơ tác dụng phụ và tương tác thuốc.

Giá cả trị liệu.

PHÒNG NGỪA

Các biện pháp phòng ngừa có thể giúp cho thời gian lành bệnh kéo dài:

Sát khuẩn nguồn tái nhiễm (giày, vớ, khăn tắm) bằng bột hay dung dịch kháng nấm.

Điều trị những người bị nhiễm và cả súc vật.

Chống ẩm.

Bôi các bột chống nấm giữa các ngón chân khi rửa chân xong.

Bài viết chưa có từ khóa.
0/50 ratings
Bình luận đóng